Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2010

Làm gì để có được một "slogan" hay?

Slogan - khẩu hiệu thương mại, nguyên nghĩa cổ là tiếng hô trước khi xung trận của những chiến binh Scotland. Ngày nay trong thương mại, slogan được hiểu như là khẩu hiệu thương mại của một công ty. Slogan thường được coi là một phần tài sản vô hình của công ty dù rằng nó chỉ là một câu nói.

Để có được một slogan hay, ngoài việc đầu tư về chất xám còn phải có sự đầu tư về quảng cáo liên tục với những chiến lược dài hạn. Chính vì vậy, khi có được một slogan đứng được trong tâm trí khách hàng, slogan đó đã trở thành một tài sản vô giá được vun đắp bằng thời gian, tiền bạc và uy tín của công ty.

Một slogan hay phải hội tụ được một số yếu tố sau:

1. Thứ nhất là mục tiêu. Một slogan khi được tung ra phải mang một mục tiêu nhất định và hướng đến mục tiêu đó. Ví như khi Pepsi ra đời thì Coca Cola đã là một người khổng lồ trong ngành giải khát rồi. Muốn phát triển được thì phải có một slogan nhắm đến một mục tiêu là lấy lại được thị phần từ Coca Cola. Hãng nước giải khát Pepsi đã lấy slogan là: "Generation Next" (Thế hệ tiếp nối), ý nói đó là một loại nước uống của thế hệ mới và ngầm ý chê bai đối thủ trực tiếp Coca Cola là loại đồ uống cổ lỗ sĩ. Với slogan hay mang trong mình mục tiêu rõ ràng là đánh vào khách hàng trẻ tuổi, Pepsi đã thu hút được phần đông giới trẻ và vươn vai trở thành một đối thủ đáng gờm của Coca Cola.
2. Thứ hai là ngắn gọn. Một slogan hay luôn phải là một slogan ngắn gọn, dễ hiểu, dễ đọc. Với nhiệm vụ phải đi vào tiềm thức của khách hàng, không ai đi xây dựng một slogan dài dằng dặc đầy đủ toàn bộ về tính năng, tác dụng, đim ưu việt của sản phẩm cả, bởi khách hàng sẽ chẳng ai bỏ công đi nhớ một slogan dài lõng thõng như vậy. Cà phê Trung Nguyên đã phải bỏ slogan dài cũ: "Mang lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới" bằng "Khơi nguồn sáng tạo". Quả thực slogan sau ngắn gọn, ấn tượng và dễ nhớ hơn nhiều.
3. Thứ ba là không phản cảm. Slogan phải tuyệt đối tránh những từ ngữ có thể gây phản cảm hoặc xúc phạm đến người khác cho dù đó chị là một bộ phận khách hàng rất nhỏ. Nhà cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanh DHL đã từng mắc lỗi này khi tung ra một slogan gây một ấn tượng không tốt: "Đến chậm gậm xương".
4.
Thứ tư, cần nhấn mạnh vào lợi ích sản phẩm. Slogan phải thể hiện được tính năng và lợi ích khi khách hàng sử dụng sản phẩm. Ví như: "Connecting People" (Kết nối mọi người) của hãng điện thoại di động Nokia hay "Luôn luôn lắng nghe. Luôn luôn thấu hiểu" của hãng bảo hiểm quốc tế Prudential.

Tuy nhiên những điều kiện trên chỉ là những điều kiện cơ bản. Một slogan thành công phải mang trong mình thông điệp ấn tượng và khơi gợi được trí tưởng tượng của khách hàng về sản phẩm của mình. Hãng đồ thời trang quần áo lót phụ nữ Victoria Secret đã có một slogan rất hay bằng một câu hỏi: "What is sexy?" (Gợi cảm là gì?). Sản phẩm đồ thể thao của tập đoàn Nike cũng được cất cánh cùng với một slogan được đánh giá là thành công nhất mọi thời đại: "Just Do It!" (Hãy làm điều đó!).

Những doanh nghiệp thương mại ở nước ta chưa mấy có sự đầu tư quan tâm về slogan. Điều đó có thể dễ dàng thấy được là còn có quá ít công ty có slogan hay. Có công ty có slogan nhưng slogan đó còn chưa chuyên nghiệp. Thậm chí có công ty còn chưa có slogan. Xây dựng một slogan hay là một việc làm cần thiết của mỗi công ty trong quá trình thu hút khách hàng và hội nhập quốc tế hiện nay. Một số công ty nước ta đã có slogan khá thành công như slogan của Công ty Biti's: "Nâng niu bàn chân Việt". Tuy nhiên đó còn là số ít. Mong rằng trong tương lai gần, các công ty trong nước sẽ quan tâm nhiều hơn đến những tài sản vô hình của công ty như thương hiệu, logo và dĩ nhiên là cả slogan nữa.

Xây dựng cộng đồng khách hàng “chiến lược toàn diện”

Tất cả những cuộc thảo luận về phương tiện trung gian lưu chuyển thông tin xã hội, blog, cộng đồng mạng, các tập đoàn và đại lý tiếp thị đang chủ động, lỗ lực đặt ra và duy trì những cuộc đối thoại. thoải mái mà các tập đoàn truyền thông đại chúng xây dựng có thể tượng trưng cho cơn ác mộng tương lai đối với các CMO.

Blog và các cộng đồng mạng sẽ được xây dựng dựa trên cấu trúc tổ chức thay vì khách hàng và thương hiệu. Các nhóm sáng tạo trong các đơn vị kinh doanh xây dựng các cộng đồng để kết nối với khách hàng. Không có sự hướng dẫn, họ sẽ xây dựng nên bất cứ thứ gì miễn sao phù hợp nhất với quyền lợi sản phẩm của mình thay vì cho một bối cảnh rộng lớn hơn. Điều này sẽ bẻ gãy các mối quan hệ với khách hàng, sự chăm sóc khách hàng.... Và cả thương hiệu.

Những cộng đồng tách biệt sẽ hình thành. Cũng như nhiều công ty đã từng biết qua sự tách biệt của quá trình tự động hóa, sự sinh sôi nảy nở của blog và các cộng đồng được tạo ra bởi nhiều đơn vị kinh doanh và các nhân viên sẽ có cách thu hút khách hàng cũng như kỹ thuật thu thập dữ liệu khác nhau. Việc rút ra các dữ liệu hữu ích cho việc ra quyết định trở lên khó khăn. Một công ty trong top 500 Fortune mà chúng tôi phỏng vấn có hơn 75 cơ sở dữ liệu khách hàng, vì vậy việc dự đoán và ra các quyết định chính xác sẽ trở lên khó khăn. Rõ ràng có một cơ hội để học từ việc xây dựng các cộng đồng nhằm thu thập các thông tin về khách hàng.

Sẽ rối loạn thông tin sẽ tạo ra nhầm lẫn. Không nghi ngờ gì nữa, với cách nhìn nhận và linh cảm khác nhau, các đơn vị kinh doanh khác nhau, điểm tương tác khác nhau, và khách hàng với các thông điệp khác nhau sẽ tạo nên sự hỗn độn. Trong một xã hội gia tăng hoạt động và mất tập trung của chúng ta, các khách hàng sẽ không thể đưa ra một thông tin chính xác.

Các con thuyền ma xuất hiện. Các tập đoàn cải tổ và nhân viên sẽ phải thay đổi công việc, nhiều blog và cộng đồng sẽ bị bỏ rơi . Tầng lớp khách hàng quan trọng sẽ bị quên lãng.
Một kế hoạch toàn diện cho cộng đồng khách hàng tránh được các cạm bẫy
Cũng như khi các nhà quy hoạch thành phố, hợp nhất các kế hoạch toàn diện để tạo ra sự phát triển bền vững, một "kế hoạch toàn diện cho cộng đồng khách hàng" cho phép các nhà điều hành định ra toàn bộ kế hoạch tương tác khách hàng.

Dựa trên nghiên cứu với hơn 1000 khách hàng toàn cầu, chúng tôi đã nhận ra rằng những điều sau là các yếu tố của một kế hoạch vững vàng:
Chiến lược cộng đồng của chúng ta là gì?
Tại sao chúng ta xây dựng nên cộng đồng? Chúng ta hy vọng đạt được điều gì cho tập đoàn?
Quảng cáo và nhận thức?
Phản hồi từ sự phát triển sản phẩm mới?
Tổng thu nhập phát sinh thông qua việc các mối quan hệ được mở rộng?
Lối vào các thị trường mới?
Khi nào chúng ta muốn xây dựng một cộng đồng cho riêng mình, và khi nào chúng ta muốn trao quyền hành động cho các cộng đồng khác như Facebook, Linked-in, các nhóm công nghiệp?
Khách hàng - cấu trúc trung tâm.
Đưa ra chiến lược của bạn, cách thức để khách hàng tiếp cận với công ty của bạn? Những nhu cầu/ công ty/ phương thức , tạo nên cấu trúc cộng đồng tối ưu theo suy nghĩ của khách hàng là gì?
Các khu vực khách hàng chính của bạn là gì? Những dữ liệu số của khách hàng có trùng khớp với công nghệ truyền thông đươc đề xuất của bạn?
Các dòng sản phẩm và dịch vụ nào dành cho phân khúc thị trường đó?
Bằng cách nào các cộng đồng kết nối với đội ngũ nhân viên bán hàng và các đối tác chiến lược của bạn?
Bằng cách nào các cộng đồng hỗ trợ cho nhau trong chiến lược toàn diện của bạn bao gồm cả online lẫn offline.
Có những dữ liệu thông dụng là nhân tố chúng ta muốn thu thập để hỗ trợ việc ra quyết định thông qua các cộng đồng hay không.
Sự quản lý
Sự quản lý tạo ra các thông số, cách thức các nhóm khác nhau trong công ty của bạn tạo ra các cộng đồng và blog.
Cách thức đánh giá các cộng đồng mới cho việc chấp nhận?
Có một lãnh đạo cho cộng đồng khách hàng hay không?
Ai "làm chủ" mỗi cộng đồng?
Chúng ta nên tránh hội chứng "mọi người - và không ai - sỡ hữu nó" như thế nào?
Ai chịu trách nhiệm nội dung?
Khi nào sự nội dung cần được xem qua trước khi đăng lên?
Chúng ta nên triển khai những tiêu chuẩn đo lường nào?
Trải nghiệm toàn diện của khách hàng.
Khách hàng cần gì khác như khi họ làm công việc của mình? Có những công ty khác mà chúng ta cần, nằm trong cộng đồng của chúng ta để xây dựng một cấu trúc với khách hàng là trọng tâm hay không ? Chúng ta có cần cộng tác những cộng đồng và thương hiệu khác, những người tiếp xúc với khách hàng chúng ta?

Quan sát và cảm thụ.
Làm thế nào chúng ta chắc chắn được những yếu tố chung nhất sẽ mở rộng thương hiệu? Những thành phần phải có là gì?
Các tiến trình quản lý cộng đồng.
Làm thế nào chúng ta có thể theo dõi các cộng đồng?
Chúng ta đã có một danh sách gồm tất cả các blog và cộng đồng chưa? Ai sở hữu nó?
Làm thế nào chúng ta tránh được cộng đồng "ma" khi sự tái tổ chức và sự thay đổi công việc xảy ra? Làm thế nào chúng ta bảo đảm được một kế hoạch chuyển tiếp cho khách hàng?
Làm thế nào chúng ta theo dõi và đảm bảo được hành động trong những phản hồi quan trọng về công ty bắt nguồn từ các cộng đồng này?
Các điều lệ nên làm cuộc đối thoại trở nên thuận lợi
Mục tiêu của Kế hoạch toàn diện cho cộng đồng khách hàng là khuyến khích sự phát triển đúng đắn; nên tránh sự nặng nề và nghiêm khắc quá mức. Chẳng hạn, ủy thác mỗi bài viết trên blog dưới sự xem xét của luật pháp sẽ làm nhân viên của bạn im lặng; luật pháp sẽ nhanh chóng trở thành yếu tố gây đình trệ. Không ai mong muốn một điều lệ như vậy.

Nhân viên của bạn là những người tiếp thị truyền miệng tốt nhất. Sự huấn luyện minh họa cho hành động đúng đắn, thông điệp hoài bão, và những thực tiễn cho nhân viên của bạn, sẽ đánh bóng tên tuổi công ty của bạn trên thị trường.

Kế hoạch toàn diện cho cộng đồng khách hàng cho phép Giám đốc phụ trách quảng cáo tiếp thị đặt ra những điều lệ khuyến khích hành động và chia sẻ những thực tiễn cho toàn thể công ty. Nó cũng tránh những khó khăn trong tương lai bằng cách cung cấp kế hoạch toàn diện cho sự phát triển. Một kế hoạch như thế sẽ đặt cộng đồng của bạn vào vị trí tốt trên con đường thu về tiền lãi.

Theo:Công ty quảng cáo GTID

Hệ thống thông tin hay cỗ máy quản lý

Hệ thống thông tin chính là cỗ máy quản lý. Nhờ nó mà năng suất và chất lượng quản lý được tăng lên, khi năng suất và chất lượng quản lý được tăng lên, thì năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng được nâng lên một cấp.
Cách đây vài năm, khi tác giả bài báo này trao đổi cùng một đồng nghiệp, và đưa ra một ý là “Công ty chúng ta bé như quả trứng ấy”, đồng nghiệp liền nhắc “trứng cũng có nhiều loại, từ trứng chim cút cho tới trứng khủng long”.

Sức sống của doanh nghiệp

Doanh nghiệp (DN) to hay bé, vừa hay nhỏ, không chỉ đơn thuần nằm ở số lượng lao động hay doanh thu của nó, mà còn nằm ngay trong tư tưởng của những người chủ DN, nằm ở cái gen DN, mà người chủ đã quyết định. Ban đầu, nó có thể bé, nhưng nó sẽ lớn nhanh, hoặc nó cũng có thể chỉ lớn thêm một chút và ngừng lại…

Vậy, điều gì làm nên sự lớn hay bé ở đây? Điều gì khiến DN vượt qua sóng gió, phát triển và đạt tới sự ổn định vốn có của nó?

Chúng ta thấy gì qua hình tượng một nài voi cưỡi trên lưng một con voi. Cái gì to, cái gì nhỏ? Chúng ta thấy gì qua hình tượng một chiếc thuyền nan và một chiến hạm với đầy đủ hệ thống quan sát, điều khiển, hệ thống thông tin, liên lạc…
Lớn hay bé, còn ở cái đầu, ở hệ thống thần kinh. Thân có to, mà hệ thống thần kinh kém phát triển, thì cũng sẽ bị ai đó ngồi lên đầu.Và đâu là hệ thống thần kinh trong một DN? Chính là hệ thống thông tin!

Hệ thống thông tin, khi được coi như hệ thần kinh của DN, có chức năng cung cấp chính xác và nhanh nhất những gì được ghi nhận ở các bộ phận bên dưới. Sau đó, phải phân tích được nhanh và chính xác nhất những thông tin ghi nhận được và cuối cùng phải quyết định và chuyển lệnh đi chính xác và kịp thời nhất.

Bạn cứ tưởng tượng, một hệ thần kinh mà chỉ đi tới dạ dày, mà không tới được tay! Hay là một DN, mà hệ thống thông tin của nó chỉ tới được bộ phận kế toán, mà không tới được bộ phận bán hàng! Vấn đề căn bản nhất của hệ thống thông tin, chính là tính toàn diện của nó, thông tin của nó phải tới được hết các bộ phận.
Không có gì xấu, nếu cái dạ dày luôn làm việc tốt, nhưng sẽ rất xấu, nếu dạ dày luôn bị nhồi nhét do miệng và tay không biết là dạ dày đã quá tải. Và sẽ xấu hơn nữa, khi dạ dày cứ cố gắng tiêu hóa hết những thứ mà tay và miệng tống vào nó. Hay nói cách khác, khi mà bộ phận kế toán cứ ôm hết công việc của một đơn vị, từ sản xuất, kinh doanh, cho tới bán hàng…

Cái giá của hệ thống thông tin

Sẽ có người không hiểu sự cần thiết của một hệ thống thông tin, và cho rằng nó chỉ đáng giá vài triệu đồng, giỏi lắm vài chục triệu. Cứ cho là ông chủ DN với quan điểm như thế là người rất giỏi, và có thể tự mình điều khiển cả một con tàu lớn chỉ bằng điện thoại di động và email. Với những ông chủ này, tôi chỉ xin chia sẻ một số vấn đề đã gặp phải trong quá trình làm việc của mình. Ông có biết là mình đang lãng phí như thế nào không? Còn tôi đã gặp những DN, công nhân của họ làm việc ngày đêm, mà sản phẩm làm ra chỉ tương đương 65% năng lực. Nghĩa là ông có 1.000 công nhân thì đang lãng phí 350 người. Dù 1.000 công nhân vẫn làm việc ngày đêm, vẫn tăng ca, nhưng sản phẩm làm ra chỉ tương đương tổng định mức cho 650 người.

Tôi đã gặp những trường hợp nguyên phụ liệu trong kho còn tồn hàng trăm nghìn USD, mà bộ phận cung ứng vẫn mua thêm về cho kịp tiến độ sản xuất. Có thể thấy gì qua việc chúng ta làm việc ngày đêm, thậm chí đã khoán cho công nhân, mà hiệu quả vẫn không cao, năng suất vẫn thấp, lãng phí vẫn nhiều.

Đó là sự kém hiệu quả của hệ thống quản lý. Do điều phối chưa tốt, nên dù mỗi người đều cố gắng hết mức, năng suất chung vẫn không cao. Do điều phối chưa tốt, càng nhiều đơn hàng, càng nhiều chủng loại sản phẩm, năng suất lại càng thấp. Quản lý kém!

Ở thời kỳ cách mạng công nghiệp, mỗi công nhân chỉ làm một công việc của mình, chuyên môn hóa cao, nên năng suất tăng cao, mỗi người làm được nhiều hơn. Nhưng chuyên môn hóa chỉ hiệu quả khi người ta sáng chế ra cái băng chuyền, để chuyển bán thành phẩm từ công đoạn này qua công đoạn khác.

Mỗi người cứ làm đúng, làm tốt việc của mình, còn cái băng chuyền nó cứ chạy. Sự tăng đột biến về năng suất chính là nhờ cái băng chuyền này, cái tính hệ thống này.

Cũng như vậy, mỗi công đoạn của quá trình quản lý cứ làm tốt công việc của mình, còn hệ thống thông tin sẽ chuyển thông tin từ công đoạn này qua công đoạn khác.

Hệ thống thông tin chính là cỗ máy quản lý. Nhờ nó mà năng suất và chất lượng quản lý được tăng lên, khi năng suất và chất lượng quản lý được tăng lên, thì năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ được nâng lên một cấp.

Năng lực được khai thác sẽ không chỉ là 70%, mà sẽ lên tới 90% hoặc hơn nữa. Khi đó hàng tồn kho sẽ giảm, lãng phí sẽ giảm, cả về thời gian, về nhân lực, về tài chính.

Bạn có thể đầu tư cho hệ thống thông tin như vậy bao nhiêu, khi nó giúp bạn sử dụng thêm vài chục phần trăm năng lực sản xuất vốn đang bị lãng phí hoặc giúp bạn nhìn thấy hàng tỷ đồng tồn kho? Bạn có thể đầu tư cho một phần mềm nhỏ lẻ bao nhiêu, khi nó không có tính liên kết?
Bao giờ quyết định cũng nằm ở chính người chủ DN. Nhưng tôi tin chắc một điều, ai cũng mong muốn có một hệ thần kinh vững chắc, có một hệ thống quản lý chứ không chỉ là các công đoạn quản lý rời rạc.

Biến động: Cơ hội lật ngược thế cờ

Từ trước đến nay, doanh nghiệp (DN) nhỏ được cho là nằm ở kèo dưới với "ba thiếu": thiếu tiền, thiếu người tài và thiếu kinh nghiệm. Liệu DN nhỏ có thể lật ngược thế cờ khi kinh tế đang biến động? Nhìn trên phương diện tích cực, biến động đem đến cơ hội hiếm có cho các DN nhỏ khi kinh nghiệm không còn là yếu tố cạnh tranh quan trọng nhất.

Có câu nói, nếu không biết xét thời mà quyết đoán, tất sẽ bị người quyết đoán. DN đón nhận và xử lý thông tin như thế nào, tất sẽ chớp thời cơ hay tránh rủi ro như thế ấy. Càng hiểu rõ cách mỗi DN suy xét thời cuộc, càng có cơ sở để biết DN đó đang đứng trước cơ hội hay rủi ro nào, và cần điều chỉnh gì để có thể lật ngược thế cờ trước biến động để vươn lên trở thành "anh hùng thời loạn".

Nhóm 1
Thích nói hơn nghe: Giỏi chớp thời cơ nhưng không khéo tránh rủi ro
DN thuộc nhóm này không thích lắng nghe, mà chỉ thích nói. Người không e ngại bộc lộ quan điểm của mình thường là người tự tin, mạnh mẽ. Niềm tin mạnh mẽ vào bản thân giúp họ thấy biến mà không suy, hành động tỉnh táo, cứng rắn. Khi giữ được năng lực quan sát thị trường, minh mẫn trước nhiều thông tin tốt, xấu đến dồn dập, họ dễ nhận ra cơ hội hơn. Khi nói nhiều mà nghe ít, DN không thu thập đủ thông tin, đánh giá không hết rủi ro, dễ rơi vào nguy hiểm.

Nhóm 2
Thích nghe hơn nói: Khéo tránh nguy hiểm nhưng không giỏi chớp thời cơ
DN thuộc nhóm này không thích nói nhiều. Họ thích lắng nghe. Người biết lắng nghe thường là người thấu đáo, kiên trì. Khả năng kiên nhẫn lắng nghe giúp họ nhận biết vấn đề ở đâu, rủi ro ở chỗ nào để biết đường mà tránh. Họ chỉ hành động khi hiểu rõ vấn đề. Khi xảy ra biến động, không rõ đường đi nước bước, DN trở nên hoang mang, co cụm, dẫn đến cơ hội trước mắt nhưng không dám nắm bắt.

Nhóm 3
Thích toàn cảnh hơn chi tiết: Giỏi chớp thời cơ nhưng không khéo tránh rủi ro
DN thuộc nhóm này cảm thấy hoa mắt trước các tập tài liệu dày cộm, chi chít số liệu, phân tích. Họ thích nhìn tổng thể vấn đề hơn. Người thích nhìn toàn cảnh vấn đề thường là người phóng khoáng. Họ thích nhìn vào mặt tích cực của sự việc và điều này giúp họ giữ được sự lạc quan trước bất ổn của nền kinh tế. Khi lạc quan, họ dễ nắm bắt cơ hội hơn. Khi chỉ tập trung vào mặt tích cực, không đánh giá cẩn thận mặt tiêu cực, DN dễ bỏ sót rủi ro, rơi vào nguy hiểm.

Nhóm 4
Thích chi tiết hơn toàn cảnh: Khéo tránh nguy hiểm nhưng không giỏi chớp thời cơ
DN thuộc nhóm này không thích các thông tin chung chung, thiếu căn cứ. Họ có khả năng xử lý một số lượng lớn thông tin, số liệu chi tiết. Người thích chi tiết thường là người kỹ tính. Họ thích tìm tòi, đào sâu vấn đề để hiểu cặn kẽ, để biết rủi ro chỗ nào mà tránh. Khi phân tích quá cẩn thận, DN dễ bị sa lầy vào chi tiết, không nhìn thấy bức tranh toàn cảnh, bỏ lỡ cơ hội.

3 nguyên tắc quân sự, 1 chiến lược kinh doanh

Có những nguyên tắc trong chiến lược quân sự mà bạn có thể áp dụng cho công việc hàng ngày, đó là Nguyên Tắc Bất Ngờ, Nguyên Tắc Khai Thác và Nguyên Tắc Hợp Tác. Những nguyên tắc này sẽ giúp bạn có những suy nghĩ sáng suốt và đạt được kết quả tốt hơn.

Gây Ngạc Nhiên
Một nguyên tắc trong quân sự thật sự rất hữu ích cho bạn khi áp dụng vào kinh doanh là Nguyên Tắc Bất Ngờ. Nguyên tắc này là “Làm những việc mọi người không ngờ đến!” Trong bán hàng và marketing, điều này có nghĩa là luôn tìm ra những cách mới để “tấn công vào sườn” đối thủ hay làm đối thủ của bạn hụt hẫng.

Từ Bỏ Lối Mòn
Đôi khi, làm ngược lại hoàn toàn những gì bạn từng làm có thể là một giải pháp hoàn hảo. Khuynh hướng tự nhiên của con người khi họ đang ở trong một hố sâu, họ sẽ đào sâu hơn. Trong nhiều trường hợp, giải pháp là đi ra khỏi hố đó và đào một cái khác. Hãy nhớ, quy luật đầu tiên về những cái hố là “Khi bạn đang ở trong một cái hố, hãy ngừng đào thêm.”

Bao Vây và Theo Dõi
Nguyên tắc thứ hai trong quân sự mà bạn có thể áp dụng trong kinh doanh là Nguyên Tắc Khai Thác. Nguyên tắc này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc Bao Vây và Theo Dõi, Trong kinh doanh, điều này có nghĩa là, một khi có cơ hội, hãy tận dụng nó để khai thác hết khả năng của bạn. Nếu bạn có một ý tưởng khuyến mãi độc đáo, hay một sản phẩm hoặc dịch vụ nổi bật, hãy bán tất cả những gì có thể. Bạn cần khai thác tốt đa ý tưởng của mình và tận dụng mọi cơ hội để tạo ra lợi nhuận.

Tinh Thần Hợp Tác
Nguyên tắc thứ ba trong quân sự áp dụng cho bản thân bạn và công ty là Nguyên Tắc Hợp Tác. Trong kinh doanh, nó thường gọi là “nguyên tắc bó đũa”. Trong quân sự, nó được gọi là “hành động phối hợp”. Trong kinh doanh, khả năng làm việc hiệu quả và hòa hợp với những người khác và các nhóm khác sẽ đem lại thành công hơn bất cứ yếu tố nào.

Chọn Mặt Gởi Vàng
Một phần quan trọng trong suy nghĩ chiến lược là xác định những cá nhân, nhóm và tổ chức nào bạn cần hợp tác để đạt được mục tiêu. Hãy lên danh sách và sau đó, sắp xếp theo mức độ quan trọng. Hãy tự hỏi: “làm thế nào để họ hợp tác với bạn?”

Trả lời cho câu hỏi kinh điển
Mọi người đều muốn biết “Việc này đem lại gì cho tôi?” Một nhà lãnh đạo giỏi phải luôn tìm cách để giúp nhân viên hiểu rằng chính công việc này là cách duy nhất để giúp họ đạt được mục tiêu nghề nghiệp.

Từ bỏ lối mòn, bao vây và theo dõi, luôn tìm cách để khiến mọi người hợp tác với bạn, bạn sẽ đạt được nhiều hơn trong một khoảng thời gian ngắn hơn mà có thể bạn chưa bao giờ nghĩ đến.

Bài tập dành cho bạn

Hai bài tập sau đây sẽ giúp bạn áp dụng ngay những ý tưởng trên vào việc kinh doanh và công việc hàng ngày:

Đầu tiên, hãy xem lại công việc của mình, đặc biệt những công việc đã từng làm bạn nản lòng, và tự hỏi liệu có cách nào khác để giải quyết vấn đề đó không. Hãy làm những gì trước giờ bạn chưa từng làm. Có thể, bạn nên thử làm ngược lại những gì đang làm. Thành công trong kinh doanh đến từ việc bạn, bằng cách nào đó, đưa đối thủ vào những tình huống bất ngờ nhất.

Thứ hai, xác định những cá nhân, nhóm và tổ chức nào bạn đang cần họ để đạt mục tiêu của mình. Thường xuyên tìm cách để có được sự hỗ trợ và hợp tác từ phía họ bằng cách suy nghĩ xem những hợp tác đó đem lại cho họ những gì.

Tân trang website để tăng thứ hạng

Hiện nay, người truy cập Internet thường sử dụng công cụ tìm kiếm để lấy thông tin và mua sắm những sản phẩm cần thiết. Do đó, doanh nghiệp cần có một số thủ thuật tăng lượt truy cập web để luôn xuất hiện trên đầu kết quả search.

"Nếu mọi người không tìm ra website của bạn, làm sao họ có thể mua sản phẩm?", Todd Friesen, Giám đốc hãng tiếp thị tìm kiếm Range Online Media (Mỹ), giải thích. "Chương trình tìm kiếm đang trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Hầu như tất cả những ai vào mạng đều biết đến Yahoo, Google, MSN và họ đang sử dụng chúng như là công cụ hỗ trợ mua hàng".

Khi muốn tăng nhanh lượng truy cập, ngoài việc mở rộng chương trình khuyến mại, doanh nghiệp nên sử dụng phần mềm theo dõi lượng khách ghé thăm, đảm bảo công cụ tìm kiếm có thể liên kết tới tất cả các trang nhỏ của website, và dùng những từ khoá cụ thể khi đặt tên trang.

Website cần được xây dựng tối ưu hoá để "phơi bày" toàn bộ nội dung với công cụ tìm kiếm. Doanh nghiệp nên tránh tình trạng chỉ lấy tên công ty để đặt cho những trang nhỏ nhằm tăng cơ hội được người dùng biết đến, do họ thường sử dụng từ khoá theo tên sản phẩm để tìm những gì mình cần, thay vì gõ tên công ty phân phối. Từ khoá mô tả trang ngắn gọn nhưng phải chi tiết và tránh rắc rối với những sản phẩm liên quan. Ví dụ không nên chỉ đặt tên là "flat" (căn phòng) vì có thể nhầm lẫn với "flat-hat" (mũ dẹt) hay flat-fish (cá bơn)...

Tất cả các phần trong site cũng cần được liên kết chặt chẽ với nhau để công cụ tìm kiếm có thể dò ra trang cụ thể, chứ không phải chỉ có trang chủ vì "chúng quá chung chung và thường không hiện ra trong kết quả nếu người dùng tìm theo tên sản phẩm", Friesen nói.

Điểm đáng lưu ý khác là lập trình để giảm sức nặng cho web. "Google sẽ không 'để mắt' tới những trang quá 100 Kb", Friesen nói. "Website phải nhỏ, gọn gàng, code nhẹ để không bị 'chết' nếu như đòi hỏi quá nhiều thời gian để tải xuống".

Bên cạnh đó, không nên bỏ qua những phương pháp thông thường nhưng hiệu quả. Để thu hút khách hàng thiếu kiên nhẫn, doanh nghiệp nên đặt link mua bán ở ngay phía trên cùng của trang để người xem dễ nhận ra, thu nhỏ kích cỡ ảnh hoặc đặt chúng ở phía cuối trang, tránh tình trạng phải kéo thanh cuốn xuống khi muốn xem nội dung hoặc đợi ảnh tải quá lâu. Đặc biệt, người thiết kế nên tránh xa công nghệ flash, bởi chúng không được ưu tiên trong danh mục tìm kiếm.

Doanh nghiệp cũng nên sử dụng phần mềm phân tích khách truy cập website để ghi nhận nơi nào trên trang được khách hàng ghé thăm nhiều nhất và từ khoá nào xuất hiện thường xuyên khi họ tìm sản phẩm.

Các công ty nên đưa 3 sản phẩm quan trọng nhất lên trang chủ để tập trung sự chú ý của khách hàng. Ngoài ra, trang web cần được xây dựng kèm công cụ nhập thông tin RSS, khuyến khích mọi người đăng ký sử dụng chương trình nhắc báo ngày sinh cũng như những sự kiện quan trọng khác để lôi kéo người dùng trở lại thường xuyên hơn.

6 luật cơ bản trong thiết kế Web

Trong cuộc sống chúng ta gặp phải và chịu ảnh hưởng của rất nhiều điều luật. Luật lệ là do con người chúng ta đặt ra nhằm mục đích tạo 1 xã hội công bằng và văn minh. Trong thiết kế cũng vậy, cũng có những điều luật cơ bản chi phối diện mạo của 1 Layout. Chúng có thể không tương tác qua lại lẫn nhau và cũng có thể trùng lặp với nhau trong 1 số trường hợp

Vậy hãy cùng nhau phân tích những nguyên lý cơ bản của design, để mà chúng ta sẽ áp dụng chúng trong những mẫu thiết kế của mình.

6 Luật cơ bản đó bao gồm:

1. Balance (cân bằng)
2. Rhythm (nhịp điệu)
3. Emphasis (nhấn mạnh)
4. Unity (đồng nhất)
5. Simplicity (đơn giản)
6. Proportion (cân xứng)



01. The law of balance: luật cân bằng

Sự cân bằng phù hợp của các yếu tố là sự cần thiết đối với 1 mẫu design. Luật cân bằng có 2 loại đó là cân bằng đối xứng và cân bằng bất đối xứng.

Cân bằng đối xứng biểu thị tất cả các yếu tố như chiều cao, chiều rộng ... được sắp đặt 1 cách đối xứng trong trang. Cân bằng đối xứng đề cập đến tất cả những gì được sắp xếp trong 1 bố cục. Cân bằng đối xứng được chia ra làm nhiều loại như cân bằng đảo ngược, cân bằng 2 trục, cân bằng xuyên tâm...

Cân bằng bất đối xứng đạt được khi không có sự đối xứng. Khi tất cả các yếu tố được xếp đặt không có sự đối xứng với nhau, cân bằng bất đối xứng được thiết lập.

Luật cân bằng được áp dụng trong rất nhiều thiết kế mà tiêu biểu là thiết kế logo.

02. The law of rhythm: Luật nhịp điệu

Nhịp điệu dùng để tạo nên sự dịch chuyển và điều hướng của tầm nhìn. Nó xảy ra khi các yếu tố trong 1 bố cục được lặp lại. Nhịp điệu được tạo ra bằng cách tạo nên 1 dòng chảy êm đềm của tầm nhìn. Nhịp điệu được dùng như 1 đường dẫn mà do đó mắt chúng ta có thể đọc được những phần quan trọng của 1 thông tin. Nó còn được gọi là 1 mẫu thức của nghệ thuật. Nhịp điệu rất quan trọng vì nó đóng 1 vai trò sống còn trong cuộc sống vật chất của chúng ta. Nhịp điệu giúp chúng ta nhìn nhận ra trật tự của thế giới chung quanh.

Nhịp điệu có thể tạo nên bằng 3 cách đó là: Sự lặp lại, Dùng chuỗi và Dùng sự liên tục. Người nghệ sĩ, thông thường sủ dụng tất cả các hình thức của nhịp điệu trong 1 bố cục. Họ phát triển thành 1 sự liên kết của nhịp điệu trong xây dựng, vẽ, các sản phẩm thủ công... 1 cách nhuần nhuyễn và khéo léo để tạo nên 1 tổng thể tuyệt vời.

03. The law of emphasis: Luật nhấn mạnh

Những yếu tố cần phải nối bật thì sẽ cần được nhấn mạnh. Sự nhấn được tạo ra bởi sự sắp đặ các yếu tố 1 cách hợp lý. Hoặc đặt chúng ở vị trí đáng được chú ý bằng cách dùng sự tương phản, có nghĩa là làm chúng nổi bật lên bằng những nét đặc trưng như màu sắc, hình dạng, tỉ lệ. Sự nhấn mạnh hoặc tương phản mang lại sự muôn màu muôn vẻ cho 1 mẫu thiết kế. Một số loại tương phản phổ biến là: cong và thẳng, rộng và hẹp, hoa mỹ và xù xì ... Nhấn mạnh bằng tương phản xuất phát từ rất nhiều phương cách, nhưng cách phổ biến nhất có lẽ là dùng màu sắc. Sự tương phản về đường nét, hình dạng và kích thước làm nên ưu thế của 1 chi tiết so với tổng thể. Thí dụ như 1 đóa hoa được đặt trước 1 bức tường tĩnh lặng và đơn sắc thu được hiệu quả nhiều hơn trong 1 môi trường ồn ào náo nhiệt.

04. The law of unity: Luật đồng nhất

Sự đồng nhất hoặc hài hòa tạo nên sự liên kết giữa các yếu tố trong 1 diện mạo. Nó là sự cân bằng phù hợp của tất cả các yếu tố để tạo nên 1 tổng thể dễ chịu. Sự đồng nhất được phản ảnh trong tổng thể hài hòa. Sự đồng nhất ám chỉ đến sự hợp nhất của tất cả các yếu tố trong 1 layout, nơi mà mỗi phần khác nhau hỗ trợ những phần còn lại và tất cả sự kết hợp đó làm thành 1 khối nghệ thuật đồng nhất. Nó đạt được bằng cách sử dụng sự liên tục và sự hài hòa.

05. The law of simplicity: Luật đơn giản

Sự đơn giản trong design dẫn đến sự nhận thức chủ đề 1 cách dễ dàng hơn. Sự đơn giản là thực sự cần thiết, đặc biệt trong layout, để tạo nên sự rõ ràng, sáng sủa.

06. The law of proportion: Luật cân xứng

Luật cân xứng là mối quan hệ giữa hình dạng và kích thước. Nó giúp cho chúng ta đạt được sự cân bằng, đồng nhất cho 1 layout. Để có được 1 sự cân xứng tốt thì các yếu tố phải được chiều chỉnh. Sự điều chỉnh kích thước của các yếu tố với 1 sự cân xứng hoàn hảo tạo nên 1 mẫu design tốt. Đó chính là sự liên quan giữa kích thước của các yếu tố với nhau, và với sự cân xứng tổng thể. Sự cân xứng bao gồm những mối liên quan đó là liên quan về chiều cao, chiều rộng, chiều sâu và không gian chung quanh.

Khoảng không gian mở xung quanh 1 chủ đề tạo nên 1 yếu tố gọi là tỉ lệ. Chúng ta có thể thấy rằng tỉ lệ liên quan mật thiết đến cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Chúng ta đi vào siêu thị để mua 1 cái đèn ngủ trang trí cho căn phòng và tìm được 1 cái ngỡ là phù hợp trong con mắt chúng ta lúc đó. Nhưng khi về nhà thì mới nhận thấy rằng nó quá to so với căn phòng. Chúng ta không thay đổi gì ở cái đèn, nhưng đối với không gian chung quanh đã có sự thay đổi về tỉ lệ. Đối với thiết kế cũng vậy. Bạn cứ ngỡ rằng nó rất phù hợp trên màn hình vi tính, nhưng khi in ra thì đó là cả 1 khỏang cách không thể không xem xét. Vì vậy tại sao người ta phải in những maquette đen trắng (ở những công ty nước ngoài người ta in đến hàng chục maquette như vậy) để tìm ra 1 layout phù hợp nhất.

Do đó có thể nói rằng tỉ lệ là 1 yếu tố quan trọng nhất trong design, mặc dù nó chỉ được xếp ở vị trí thứ 6 trong những yếu tố của design (các yếu tố kia là đường nét, phương hướng, hình dạng, màu sắc, chất liệu và độ sáng tối).

Tóm lại, những nguyên lý của design là những nguyên tắc cơ bản được ghi nhớ và áp dụng đi kèm với suy nghĩ và cảm xúc của người nghệ sĩ hoặc designer. Những nguyên lý đó được soạn thành luật lệ cho những phương pháp làm việc, mà nguời nghệ sĩ đã rút ra qua bao nhiêu thế kỉ trải nghiệm, thực hành cũng như có những sai sót thực tế. Vì vậy tất cả những gì của ngày nay chúng ta được học tập là những tinh hoa của hàng trăm năm lịch sử design nói chung và graphic design nói riêng. Cùng với sự sáng tạo của mình kết hợp với những law of design nói trên, chắc chắn các bạn sẽ đưa graphic design của VN phát triển lên tầm quốc tế.
Girls Generation - Korean